Những câu hỏi liên quan đến công việc của Thừa Phát Lại

(Ngày đăng:18-09-2014 - Lượt xem: 3541)
Câu hỏi 1: Thời hạn thông báo về thi hành án và các hình thức thông báo về Thi hành án được quy định như thế nào ? Trả lời :

I: THI HÀNH ÁN 

Câu hỏi 1:

Thời hạn thông báo về thi hành án và các hình thức thông báo về Thi hành án được quy định như thế nào?

Trả lời : 

Theo quy định tại điều 39 luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì việc thông báo về thi hành án được thực hiện:

1: Quyết định về Thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc Thi hành án phải thông báo cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.

2: Việc thông báo phải thực hiện trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.

3: Việc thông báo được thực hiện theo các hình thức sau đây:

a. Thông báo trực tiếp hoặc qua cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của Pháp luật

b. Niên yết công khai

c. Thông báo trên các thông tin đại chúng.

Câu hỏi 2:

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định như thế nào về thủ tục thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức?

Trả lời: 

Theo quy định tại điều 41 luật Thi hành án dân sự năm 2008, thì thủ tục thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức được thực hiện như sau: Trường hợp người được thông báo là cơ quan, tổ chức thì văn bản thông báo được giao trực tiếp cho người đại diện theo Pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và phải được những người này ký nhận.

Trường hợp cơ quan, tổ chức được thông báo có người đại diện tham gia việc thi hành án hoặc cử người đại diện nhận văn bản thông báo thì những người này ký nhận văn bản thông báo. Ngày ký nhận được thông báo hợp lệ.

 Câu hỏi 3:

Thủ tục thông báo trực tiếp về Thi hành án cho cá nhân được thực hiện như thế nào?

Trả lời :

Thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân được thực hiện theo quy định tại Điều 40 Luật thi hành án dân sự năm 2008 cụ thể như sau:

1:  Văn bản thông báo  cho cá nhân phải được giao trực tiếp và yêu cầu người đó ký nhận hoặc điểm chỉ.

2: Trường hợp người được thông báo vắng mặt thì văn bản thông báo được giao cho một trong số người thân có đủ năng lực hành vi dân sự cư trú với người đó, bao gồm: Vợ, chồng, con, ông bà, cha mẹ, .......của đương sự. Việc thông báo phải được lập thành biên bản. Ngày lập biên bản là ngày được thông báo hợp lệ.

Trường hợp người được thông báo không có người thân có đủ năng lực, hành vi dân sự cư trú hoặc có nhưng người đó từ chối nhận văn bản thông báo hoặc người được thông báo vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về thì người thực hiện thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được thông báo, có chữ ký của người chứng kiến và thực hiện việc niêm yết công khai theo quy định điều 42 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008

3: Trường hợp người được thông đã chuyển đến địa chỉ mới thì phải thông báo theo địa chỉ mới của người được thông báo.

Câu hỏi 4:

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định như thế nào về thủ tục niêm yết công khai văn bản thông báo về Thi hành án dân sự?

Trả lời:

Điều 42 luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định thủ tục niêm yết công khai như sau

1: Việc niêm yết công khai văn bản thông báo chỉ được thực hiện khi không rõ địa chỉ của người được thông báo hoặc không thực hiện được thông báo trực tiếp, trừ trường hợp Pháp luật có quy định khác.

Cơ quan Thi hành án dân sự trực tiếp hoặc ủy quyền cho UBND cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo hoặc cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của Pháp luật thực hiện việc niêm yết.

2: Việc niêm yết được thực hiện theo thủ tục sau đây

a. Niêm yết văn bản thông báo tại trụ sở cơ quan Thi hành án dân sự, trụ sở UBND cấp Xã, phường nơi cư trú, hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo.

b. Lập biên bản về việc niêm yết công khai: Trong đó ghi rõ  ngày, tháng, năm niêm yết: Số..... ngày.... tháng .... năm..... tên của Văn bản thông báo, có chữ ký của người chứng kiến.

3: Thời gian niêm yết công khai văn bản thông báo là 10 ngày, kể từ ngày niêm yết. Ngày niêm yết là ngày được thông báo hợp lệ. Đối với Văn phòng Thừa Phát Lại  thì Thừa Phát Lại thực hiện theo điều 6 thủ tục tống đạt thông tư Số: 09 /2014/TTLT-BTP-TANDTC- VKSNDTC- BTC ngày 28/02/2014 hướng dẫn thực hiện " Thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/04/2012 của Quốc Hội.

Câu hỏi 5:

Việc cưỡng chế khai thác tài sản để Thi hành án được chấm dứt trong các trường hợp nào? 

Trong các trường hợp chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản nào Chấp hành viên tiếp tục kê biên và xử lý tài sản đó để Thi hành án ?

Trong trường hợp nào thì Chấp hành viên ra quyết định giải tỏa việc cưỡng chế khai thác tài sản và trả lại tài sản cho người phải Thi hành án?

Trả lời:

Khoản 1 điều 109 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định Chấp hành viên  ra quyết định chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản trong các trường hợp sau đây:

- Việc khai thác tài sản không hiệu quả hoặc làm cản trở đến việc Thi hành án.

- Người phải Thi hành án , người khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của Chấp hành viên về việc khai thác tài sản.

- Người phải Thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ Thi hành án và các chi phí về Thi hành án.

- Có quyết định đình chỉ Thi hành án.

Theo quy định tại khoản 2 điều 109 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì trường hợp việc cưỡng chế khai thác tài sản chấm dứt theo Quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 điều 109 nêu trên thì Chấp hành viên tiếp tục kê biên và xử lý tài sản đó để Thi hành án. 

Theo quy định tại đoạn 2 điều 109 Luật thi hành án năm 2008 thì trường hợp việc cưỡng chế khai thác tài sản chấm dứt theo quy định tại điểm C và điểm D khoản 1 điều 109 thì trong 109 thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định, Chấp hành viên ra quyết định giải tỏa việc cưỡng chế khai thác tài sản và trả lại tài sản cho người phải Thi hành án.

Câu hỏi 6:

Trong trường hợp nào thì Chấp hành viên được cưỡng chế khai thác tài sản của người phải Thi hành án?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 107 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì Chấp hành viên cưỡng chế khai thác tài sản của Người phải Thi hành án trong các trường hợp sau đây:

* Tài sản của người phải Thi hành án có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải Thi hành án về tài sản đó có thể khai thác để Thi hành án.

VD: bên A phải bên B số tiền 500 triệu

- bên A có tài sản lớn : Đó là khách sạn 5 sao đang khai thác

* Người được Thi hành án đồng ý cưỡng chế khai thác tài sản để Thi hành án nếu việc Thi hành án không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ 3.

Chấp hành viên phải ra quyết định cưỡng chế khai thác tài sản. Quyết định ghi rõ hình thức khai thác, số tiền, thời hạn, địa điểm, phương thức nộp tiền cho cơ quan Thi hành án dân sự để Thi hành án. 

Quyết định cưỡng chế khai thác tài sản được gửi ngay cho cơ quan có thẩm quyền quản lý, đăng ký đối với tài sản đó và UBND cấp xã nơi có tài sản.

Việc thực hiện giao dịch, chuyển giao quyền sở hữu tài sản đối với tài sản đang khai thác phải được sự đồng ý của chấp hành viên.

Câu hỏi 7: 

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định như thế nào về các hình thức cưỡng chế khai thác tài sản để Thi hành án?

Trả lời:

1. Tài sản cho người phải Thi hành án đang trực tiếp khai thác hoặc cho người khác khai thác thì người đang khai thác được tiếp tục khai thác.

Trường hợp tài sản bao gồm cả quyền sử dụng đất mà chưa khai thác thì Chấp hành viên yêu cầu người phải Thi hành án ký hợp đồng khai thác tài sản với tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác tài sản.

2. Người khai thác tài sản quy định tại khoản 1 điều này phải nộp số tiền thu được từ việc khai thác tài sản cho cơ quan Thi hành án dân sự, sau khi trừ các chi phí cần thiết.

3. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày yêu cầu mà người phải Thi hành án  không ký hợp đồng khai thác với người khác thì Chấp hành viên kê biên, xử lý tài sản đó để Thi hành án.

Câu hỏi 8:

Việc thông báo về Thi hành án dân sự trên các phương tiện thông tin đại chúng được Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định như thế nào?

Trả lời:

Thông báo về Thi hành án dân sự trên phương tiện  thông tin đại chúng được quy định tại Điều 43 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 như sau: 

1. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện khi  Pháp luật có quy định hoặc khi đương sự yêu cầu.

2.  Trường hợp xác định đương sự đang có mặt tại địa phương  nên đương sự cư trú thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp  hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương của địa phương đó hai lần trong 02 ngày liên tiếp.

- Trường hợp xác định đương sự không có mặt tại địa phương nơi đương sự cư trú thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày trong 02 số liên tiếp hoặc trên Đài phát thanh, Đài truyền hình của Trung Ương hai lần trong 02 ngày liên tiếp.

3. Ngày thực hiện việc thông báo lần hai trên phương tiện thông tin đại chúng là ngày được thông báo hợp lệ.

Câu hỏi 9:

Tôi là người được thi hành án 300.000.000 đồng từ ông Nguyễn Văn B theo bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Tôi làm đơn yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thi hành án cho tôi, thì Chi cục Thi hành án dân sự yêu cầu tôi phải có tài liệu chứng minh đã xác minh điều kiện thi hành án của ông B, nếu không có thì phải đề nghị cơ quan thi hành án xác minh điều kiện thi hành án và phải chịu chi phí xác minh. Như vậy có đúng không?

Trả lời:

Trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án của người được thi hành án là một loại quy định mới được thực hiện theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Đây là quy định nhằm nâng cao vai trò và trách nhiệm của người được thi hành án trong hoạt động thi hành án dân sự, giảm tải một phần công việc cho cơ quan thi hành án dân sự và góp phần bảo đảm cho hoạt động thi hành án dân sự hiệu quả hơn.
Tại khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự có quy định “trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu, nếu người được thi hành án đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì có thể yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh. Việc yêu cầu này phải được lập thành văn bản và phải ghi rõ các biện pháp đã được áp dụng nhưng không có kết quả, kèm theo tài liệu chứng minh”. Điểm a khoản 2 Điều 73 Luật Thi hành án dân sự còn quy định người được thi hành án phải chịu “Chi phí xác minh theo quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật này”. Tại khoản 1 Điều 31 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ về chi phí cưỡng chế thi hành án cũng có quy định: Người được thi hành án có yêu cầu Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án phải trả các chi phí thực tế, hợp lý cho việc xác minh. Chi phí xác minh điều kiện thi hành án do Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính quy định cụ thể.


Như vậy, nếu bà không có tài liệu chứng minh đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, thì Chi cục Thi hành án dân sự yêu cầu bà phải có tài liệu chứng minh đã xác minh điều kiện thi hành án của ông Bảy, nếu không có thì phải đề nghị cơ quan thi hành án xác minh điều kiện thi hành án và phải chịu chi phí xác minh. Tuy nhiên, đến nay Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính quy định cụ thể các chi phí thực tế, hợp lý cho việc xác minh mà người được thi hành án phải chịu trong trường hợp này.

Hiện nay, chế định Thừa phát lại đang được thực hiện thí điểm tại một số tỉnh, thành. Người dân có thêm một lựa chọn khi có nhu cầu xác minh, truy tìm tài sản của bên phải thi hành án. Bạn có thể thỏa thuận và ký hợp đồng với Văn phòng thừa phát lại để xác minh điều kiện thi hành án. Khi thực hiện việc xác minh, Thừa phát lại có quyền và nghĩa vụ như chấp hành viên của cơ quan thi hành án dân sự. Sau khi có kết quả xác minh, bạn có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự hoặc  thỏa thuận với Văn phòng Thừa phát lại để thực hiện việc thi hành bản án đó. Thừa phát lại có quyền như chấp hành viên của cơ quan thi hành án dân sự để ngăn chặn việc tẩu tán tài sản của bên phải thi hành án, sau đó áp dụng các biện pháp cưỡng chế như kê biên, bán đấu giá... để thi hành bản án.