Kỹ năng cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trong tố tụng hình sự có hiệu quả

(Ngày đăng:20-10-2016 - Lượt xem: 4934)
1. Một số vấn đề chung – Trong Bộ luật tố tụng hình sự không có chương riêng quy định về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng như Bộ luật tố tụng dân sự. Điều này không có nghĩa rằng trong tố tụng hình sự không có quy định thủ tục cấp tống đạt thông báo văn bản tố tụng.

 

1. Một số vấn đề chung

– Trong Bộ luật tố tụng hình sự không có chương riêng quy định về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng như Bộ luật tố tụng dân sự. Điều này không có nghĩa rằng trong tố tụng hình sự không có quy định thủ tục cấp tống đạt thông báo văn bản tố tụng.

– Về nguyên tắc, cơ quan tiến hành tố tụng ban hành loại văn bản tố tụng nào mà pháp luật quy định phải được giao cho từng đối tượng cụ thể thì phải thực hiện việc cấp tống đạt cho đối tượng đó.

– Về phương thức, thủ tục thực hiện cũng giống như quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, trừ việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng hình sự cho bị can, bị cáo có những biện pháp chế tài mạnh hơn được quy định tương ứng tại các điều 182, 187 Bộ luật Tố tụng hình sự.

– Về đặc điểm, đối tượng được cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng hình sự khác với dân sự:

+ Tính đa dạng của chủ thể được nhận;

+ Có tính mệnh lệnh cưỡng chế;

+ Thái độ chấp hành tốt hơn.

– Nhiệm vụ cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng hình sự cũng là nhiệm vụ chủ yếu của Thư ký Toà án khi tham gia giải quyết các vụ án hình sự.

2. Một số quy định cụ thể về các loại văn bản tố tụng cấp, tống đạt, đối tượng nhận

2.1. Phương thức, thủ tục và tính hợp lệ của việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng

– Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trực tiếp;

– Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng qua bưu điện;

– Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng qua người thứ ba được uỷ quyền;

– Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng niêm yết công khai;

– Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng thông báo phương tiện thông tin. (Phần này trong tố tụng hình sự, đơn vị không xuất hiện trường hợp này nên không đề cập)

* Các văn bản trong tố tụng hình sự cần được cấp, tống đạt:

+ Quyết định tạm đình chỉ hoặc quyết định đình chỉ vụ án của Toà án phải được giao cho bị can, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo; những người khác tham tố tụng thì được gửi giấy báo.

+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ vụ án phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.

+ Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn phải được gửi ngay cho bị can, bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, trại tạm giam nơi bị can, bị cáo đang bị tạm giam.

Quyết định áp dụng thay đổi huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn phải gửi ngay cho bị can, bị cáo, Viện kiểm sát và trại tạm giam.

Ngoài những loại quyết định cụ thể trên, trong Bộ luật Tố tụng hình sự còn có những loại quyết định ban hành theo tình huống như: quyết định hoãn phiên toà, quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung tại phiên toà, quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án (Điều 228), quyết định trưng cầu giám định, quyết định bắt buộc chữa bệnh, quyết định áp giải bị can tại ngoại theo Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự vv…thì tất cả các văn bản tố tụng đó đều phải thực hiện cấp, tống đạt thông báo cho các đối tượng trong Quyết định thực hiện, các cơ quan tiến hành tố tụng liên quan để theo dõi và người tham gia tố tụng khác biết để họ thực hiện các quyền của mình.

– Tống đạt các giấy triệu tập đến phiên toà (Điều 183)

– Cấp, giao bản án (Điều 229).

2.2. Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng:

Phần này là nội dung trọng tâm. Nếu việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng không đúng thủ tục quy định sẽ không được coi là hợp lệ. Khi không hợp lệ thì ảnh hưởng rất nhiều đến tiến độ, hiệu quả và chất lượng giải quyết vụ án. Yêu cầu Thư ký Toà án phải nắm vững thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng để thực hiện.

– Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trực tiếp:

Về quy định chung của việc cấp,tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trực tiếp:

Cần phải xác định trách nhiệm và nghĩa vụ của người thực hiện việc cấp tống đạt, đồng thời cũng quy định rõ nghĩa vụ của người được nhận văn bản tố tụng.

+ Thư ký Toà án được giao nhiệm vụ cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho bất kỳ cho người tham gia tố tụng nào thì phải chuyển giao trực tiếp cho người được cấp, được nhận các văn bản tố tụng.

+ Phải lập biên bản giao nhận và yêu cầu người nhận ký nhận.

+ Thời điểm ký nhận là căn cứ để tính thời hạn tố tụng.

Việc giao nhận trực tiếp các loại văn bản tố tụng cho đương sự là thủ tục đem lại hiệu quả cao nhất cho quá trình giải quyết vụ án. Đảm bản nhanh, chính xác, kịp thời không bị khiếu nại và không bị huỷ án vì lý do này. Nên thường Thư ký Toà án chọn thủ tục này.

Có hai cách thức tiến hành việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng:

(1) Một là: Triệu tập người tham gia tố tụng đến Toà án để giao (Nếu họ không đến thì cần có giải pháp kịp thời để bảo đảm thời hạn tố tụng thuộc trường hợp phải xác định thời hạn tố tụng nhất định).

(2) Hai là: Đến nơi cư trú của người nhận để giao văn bản tố tụng

– Trường hợp (2) có một số tình huống xảy ra cần chú ý như sau:

+ Nếu người được nhận văn bản tố tụng vắng mặt thì có thể giao cho người thân thích của họ (có đủ năng lực hành vi dân sự và cùng cư trú trong gia đình) và yêu cầu họ cam kết giao lại tận tay cho người được cấp. Ngày ký của họ được coi là ngày cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng.

+ Trường hợp vắng mặt mà không có người thân thích đủ năng lực hành vi cùng cư trú hoặc có nhưng họ không chịu nhận thì có thể chuyển giao văn bản tố tụng đó cho tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, khóm, buôn, phum (gọi chung là tổ trưởng tổ dân phố), UBND, CA xã, phường, thị trấn… nơi người đó cư trú và cũng yêu cầu những người này có trách nhiệm giao tận tay các văn bản tố tụng đó cho người được nhận.

+ Đối với các trường hợp thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng qua người khác như hai tình huống trên thì trong biên bản giao nhận phải ghi đầy đủ các tiêu chí, thông tin.

– Ngoài ra còn một số tình huống khác như:

+ Người được nhận văn bản tố tụng đã chuyển đi nơi ở mới thì phải đến nơi ở mới để thực hiện việc giao (Nếu xác định được nơi cư trú mới).

+ Trường hợp người được nhận văn bản tố tụng vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về hoặc đã đi nơi khác không rõ địa chỉ thì người thực hiện việc tống đạt phải lập biên bản về việc không giao nhận được văn bản tố tụng có chữ ký của người cung cấp thông tin.

+ Trường hợp người được cấp từ chối nhận thì phải lập biên bản nêu rõ lý do từ chối có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố, UBND, Công an xã phường về việc người đó từ chối.

+ Trường hợp người được nhận văn bản tố tụng chết thì cần lập biên bản xác nhận thông tin để làm cơ sở xử lý tiếp theo.

– Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trực tiếp cho cơ quan, tổ chức:

+ Phải cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho người đại diện theo pháp luật của cơ quan tổ chức.

+ Nếu đã cử đại diện uỷ quyền thì tống đạt cho người này.

+ Cũng có thể giao trực tiếp cho người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức (ví dụ như văn thư).

Dù đối với người nào theo quy định trên cũng được xác định là cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp và phải lập biên bản có chữ ký của người nhận.

*  Điều kiện thực hiện thủ tục niêm yết công khai là:

+ Phải không rõ tung tích của người được cấp;

+ Không thể thực hiện việc cấp trực tiếp.

Những trường hợp nào được coi là không thể thực hiện việc cấp, tống đạt trực tiếp để thực hiện niêm yết đến nay chưa được hướng dẫn. Vì thế đã áp dụng hoặc hiểu không đúng quy định này.

* Việc niêm yết công khai: Có thể do Toà án trực tiếp thực hiện, có thể uỷ quyền cho UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú cuối cùng theo thủ tục sau:

+ Niêm yết bản chính tại trụ sở Toà án, UBND cấp xã, phường, thị trấn;

+ Niêm yết bản sao tại nơi cư trú;

+ Lập biên bản về việc niêm yết công khai.

Vấn đề đặt ra: Việc lập biên bản bao giờ cũng có chữ ký của người lập và người khác ký (có thể là người chứng kiến, người nhận…) Trường hợp niêm yết tại trụ sở Toà án có cần lập biên bản riêng không và ai tham gia ký biên bản nếu có?

+ Có ý kiến cho rằng Thư ký Toà án niêm yết lập biên bản mời bảo vệ cơ quan Toà án hoặc người phụ trách văn phòng ký;

+ Có ý kiến cho rằng việc niêm yết tại cơ quan Toà án là một bộ phận không tách rời với các văn bản niêm yết tại các nơi khác và có lập biên bản niêm yết tại trụ sở Toà án thì cũng là hình thức.

Do đó ở trụ sở Toà án chỉ cần niêm yết là đủ mà không cần lập biên bản niêm yết.

* Lưu ý: Đối với trường hợp niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc quyết định nào đó mà có xác định thời hạn để tiến hành hoạt động tố tụng tiếp theo thì phải bảo đảm sau 15 ngày kể từ ngày niêm yết mới thực hiện quyết định đó. Vì vậy, trong biên bản niêm yết phải ghi đúng, đầy đủ ngày, tháng, năm niêm yết. Trên thực tế đã có trường hợp mới niêm yết 10 ngày đã đưa vụ án ra xử nên người tham gia tố tụng có quyền đã khiếu nại và phải huỷ án.

– Thông báo kết quả việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng:

+ Điều 156 Bộ luật Tố tụng quy định người được toà án giao hoặc uỷ quyền việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng thì có trách nhiệm thông báo ngay kết quả thực hiện cho Toà án hoặc người giao, uỷ quyền.

+ Ngược lại người giao cũng phải theo dõi đôn đốc nhận kết quả để có căn cứ giải quyết đúng pháp luật.

3. Kỹ năng cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng

Để thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng đúng thủ tục, hợp lệ, có hiệu quả, đòi hỏi Thư ký Toà án phải có những kỹ năng nhất định.

3.1. Năng lực nhận định, phán đoán, nắm bắt các tình huống cụ thể để lựa chọn phương thức, thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng

Khi được giao nhiệm vụ cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, trước hết người Thư ký Toà án phải xác định đó là loại văn bản tố tụng gì? Tính quan trọng, cấp thiết của văn bản đó; thời hạn cho người nhận thực hiện nội dung yêu cầu; đối tượng người được nhận ở đâu? ý thức chấp hành, thực hiện yêu cầu của Toà án như thế nào vv…? Trên cơ sở đó chọn lựa phương thức, cách thức cấp, tống đạt cho phù hợp.

Sau đó, báo cáo hoặc đề xuất với người giao thống nhất việc chọn phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng.

3.2. Công tác chuẩn bị cho việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng:

Công tác chuẩn bị có thể nói là vô cùng quan trọng vì trên thực tế cũng như theo rút kinh nghiệm trong cuộc sống thì tất cả những việc mà ta không chuẩn bị là ta đang chuẩn bị nhận lấy một kết quả thất bại.

Mỗi một phương thức chuyển giao văn bản tố tụng khác nhau, trình tự thủ tục cũng khác nhau, công tác chuẩn bị cũng khác nhau. Có phương thức, cách thức đòi hỏi việc chuẩn bị phức tạp, cần có thời gian thực hiện; cũng có phương thức, cách thức không tốn nhiều thời gian chuẩn bị.

Ví dụ:

– Việc chuyển giao qua bưu điện thì có thể giao cho văn thư cơ quan thực hiện;

– Chuyển trực tiếp tại Toà thì triệu tập đến giao nhận;

– Chuyển trực tiếp tại nơi ở thì phải bố trí thời gian đi, chuẩn bị công tác phối hợp với địa phương.

Một số nội dung cần nắm vững:

– Rà soát kiểm tra những sai sót trong văn bản tố tụng được chuyển giao để yêu cầu người ký ban hành văn bản tố tụng đó sửa chữa kịp thời;

– Chuẩn bị tài liệu, biên bản giao nhận hoặc sổ giao nhận và thẻ công chức;

– Chuẩn bị trong phối hợp: nếu đi đến nơi cư trú để chuyển giao cần liên hệ trước với chính quyền địa phương hoặc tổ dân phố để mời tham gia chứng kiến cũng như một số trường hợp cần phải đảm bảo sự khách quan, hợp lệ của việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng.

4. Các trường hợp cấp, tống đạt cụ thể cho từng đối tượng cần chú ý:

4.1. Triệu tập bị cáo:

Đối với bị cáo bị tạm giam, cần phải ban hành lệnh trích xuất bị cáo gửi đến Đội CS THA HS & HTTP.

Đối với bị cáo tại ngoại, cần phải ban hành giấy triệu tập bị cáo đến phiên tòa.

– Việc giao các quyết định của Toà án, Điều 182 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định:

Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được giao cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa, chậm nhất là mười ngày trước khi mở phiên toà.

Thư ký phải nắm được trong vụ án có bao nhiêu bị cáo, bị cáo nào được tại ngoại, bị cáo nào đang tạm giam, đồng thời cũng phải nắm được nơi cư trú, công tác của bị cáo để có kế hoạch giao quyết định cho kịp thời.

Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Thư ký phải đến trại tạm giam để giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo. Khi giao quyết định phải lâp thành biên bản yêu cầu bị cáo ký nhận.

Trong trường hợp bị cáo tại ngoại, Thư ký phải kết hợp với chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị cáo làm việc để giao cho bị cáo. Khi giao quyết định phải lâp thành biên bản yêu cầu bị cáo ký nhận.

Nếu khi lập biên bản về việc giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo mà bị cáo từ chối việc ký nhận, phải ghi rõ ý kiến của bị cáo, rồi cùng với đại diện cơ quan công an (xã, phường, thị trấn), tổ chức và trưởng Ban dân chính (tổ trưởng Dân phố) ký vào biên bản.

Trường hợp bị cáo không có mặt ở nhà phải xác minh và nếu gia đình bị cáo biết rõ họ đang ở đâu thì Thư ký yêu cầu một người thành niên trong gia đình nhận thay để giao lại cho bị cáo. Việc nhận thay cũng phải lập biên bản để người đó và người đại diện cùng ký vào biên bản. Tuy nhiên, sau khi người nhận thay ký vào biên bản, Thư ký phải báo lại trường hợp này cho Thẩm phán và cùng Thẩm phán tiếp tục theo dõi việc triệu tập này, vì triệu tập như vậy chưa phải là hợp lệ.

Trong quá trình cấp tống đạt giấy triệu tập cho bị cáo, Thư ký phát hiện bị cáo trốn tránh thì phải báo cáo ngay cho Thẩm phán để Thẩm phán đề nghị Chánh án hoặc Phó Chánh án ra quyết định áp dụng biện pháp tạm giam, giao cho công an thực hiện lệnh bắt. Nếu Công an không thực hiện được lệnh bắt do bị cáo bỏ trốn thì yêu cầu Công an ra quyết định truy nã bị cáo.

Trong trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo thì quyết định đưa vụ án ra xét xử và bản cáo trạng được giao cho người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của bị cáo; quyết định đưa vụ án ra xét xử còn phải được niêm yết tại trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị cáo.

4.2. Triệu tập những người tham gia tố tụng khác

Trong từng đối tượng, tư cách người tham gia tố tụng khác nhau, đòi hỏi Thư ký cũng cần phải có kỹ năng khác nhau nhằm bảo đảm việc xét xử đúng thời gian như kế hoạch.

Đối với trường hợp tống đạt cho nguyên đơn dân sự, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về dân sự trong vụ án cần chú ý: hạn chế việc hoãn phiên tòa không cần thiết. Thông thường những người tham gia tố tụng này được Tòa án triệu tập, đều đến đúng ngày mở phiên tòa để họ được xem xét giải quyết về thiệt hại của họ. Thế nhưng, không phải trường hợp nào, họ cũng có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án (trừ những trường hợp bất khả kháng, khách quan không đến được) vì thiệt hại của họ đã được xem xét giải quyết tại giai đoạn điều tra (Tài sản kịp thời thu hồi được trả lại cho chủ sở hữu, hay thiệt hại về sức khỏe đã được bồi thường thỏa đáng xong,…), trong trường hợp này, để tránh phiên tòa phải hoãn lần thứ nhất, với lý do vắng mặt nguyên đơn dân sự, người bị hại hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không rõ lý do, thì Thư ký cần phải nắm thông tin vào ngày mở phiên tòa người được triệu tập có thể đến dự phiên tòa được hay không? Trường hợp, họ không đi được hoặc không muốn đi thì đề nghị họ làm đơn xin xét xử vắng mặt nêu rõ lý do vắng mặt, nội dung đơn phải thể hiện được về phần trách nhiệm dân sự có yêu cầu như nào hay không yêu cầu? và yêu cầu về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo ra sao? Đơn xin xét xử vắng mặt được chính quyền địa phương nơi họ cư trú hoặc công tác xác nhận.

Đối với trường hợp tống đạt cho người làm chứng trong vụ án trong vụ án có liên quan đến các tội mua bán, vận chuyển, tang trữ trái phép chất ma túy thì người làm chứng chủ yếu là đối tượng nghiện. Những người này không phải lúc nào cũng có mặt tại địa phương, không phải lúc nào Tổ trưởng dân phố, cảnh sát khu vực cũng nắm rõ, mà thông thường chỉ có Điều tra viên, Cán bộ điều tra trong vụ án này mới nắm rõ họ đang ở đâu. Do đó, Thư ký thực hiện việc cấp tống đạt giấy triệu tập những người này cần phải phối hợp với Điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra trong vụ án.

Kết luận: Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng là hoạt động tố tụng có ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả và thời hạn tố tụng giải quyết vụ án. Đòi hỏi Thư ký Toà án phải đề cao trách nhiệm, nắm vững các quy định của pháp luật và có kỹ năng thực hiện thì mới hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

5. Những bài học kinh nghiệm:

– Cần phải chuẩn bị tốt: không được chủ quan dẫn đến thiếu chuẩn bị trước hoặc nắm không kỹ quy định hoặc không lường trước được những tình huống có thể xảy ra nên khi đi không phối hợp với địa phương hoặc mời tổ dân phố. Đến nơi gặp tình huống phát sinh mới đi liên hệ. Có trường hợp đi về mà không giao được các văn bản tố tụng cần tống đạt.

– Thực hiện thủ tục tống đạt chưa hợp lệ dẫn đến bị huỷ án hoặc huỷ quyết định.

– Nội dung văn bản chuyển giao không được rà soát trước. Ví dụ: giấy triệu tập người tham gia tố tụng vào ngày thứ 7, chủ nhật, trong khi đơn vị không làm việc vào các ngày này.

Trên đây là kinh nghiệm của bản thân khi thực hiện nhiệm vụ Thư ký đối với cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng hình sự của bản thân.

Theo toaan.quangnam.gov.vn