Tìm hiểu về Thừa phát lại theo quy định của pháp luật Việt Nam

(Ngày đăng:29-11-2018 - Lượt xem: 53)
Thừa phát lại là một nghề xuất hiện trên thế giới hàng trăm năm nay, hiện có 72 nước là thành viên của Liên minh Thừa phát lại quốc tế. Ở Việt Nam, Thừa phát lại xuất hiện từ thời Pháp thuộc, miền Bắc gọi là Chưởng tòa, miền Trung gọi là Mõ tòa, miền Nam là Thừa phát lại. Vì nhiều lý do nên sau năm 1954 (ở miền Bắc) và sau năm 1975 (ở miền Nam), chế định Thừa phát lại không duy trì nữa.

Thừa phát lại là một nghề xuất hiện trên thế giới hàng trăm năm nay, hiện có 72 nước là thành viên của Liên minh Thừa phát lại quốc tế. Ở Việt Nam, Thừa phát lại xuất hiện từ thời Pháp thuộc, miền Bắc gọi là Chưởng tòa, miền Trung gọi là Mõ tòa, miền Nam là Thừa phát lại. Vì nhiều lý do nên sau năm 1954 (ở miền Bắc) và sau năm 1975 (ở miền Nam), chế định Thừa phát lại không duy trì nữa.

 

Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc đổi mới nhằm tăng cường hiệu quả hiệu lực hoạt động, đáp ứng và phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới và phát triển đất nước là nhiệm vụ quan trọng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra phương hướng: “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự. Nghiên cứu, thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía Nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình…, từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án dân sự”; “Nghiên cứu chế định Thừa phát lại (thừa hành viên); trước mắt có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo”. Thể chế hóa chủ trương của Đảng, Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội về thi hành án dân sự quy định: Giao cho Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số địa phương.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại TP. Hồ Chí Minh. Bộ Tư pháp chủ trì và phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tài chính ban hành một số thông tư hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009, đó là: Thông tư số 03/2009/TT-BTP ngày 30/9/2009 của Bộ Tư pháp; Thông tư liên tịch số 12/2010/TTLT-BTP-TANDTC-BTC ngày 24/6/2010 của Bộ Tư Pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ tài chính hướng dẫn về chi phí thực hiện công việc của Thừa phát lại và chế độ tài chính đối với văn phòng thừa phát lại; Thông tư liên tịch số 13/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 07/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thủ tục thực hiện một số công việc của Thừa phát lại. Nghị quyết của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn nêu trên đã tạo nên cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ cho tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại trong thời gian thực hiện thí điểm tại TP. Hồ Chí Minh.

Theo quy định của các văn bản hiện hành, Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan. Thừa phát lại làm việc theo hợp đồng tại Văn phòng Thừa phát lại. Văn phòng Thừa phát lại được thành lập và hoạt động trên cơ sở Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định 61/2009/NĐ-CP dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh. Một số nội dung liên quan đến tổ chức và hoạt động Thừa phát lại được quy định cụ thể:

Thứ nhất, về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh Thừa phát lại:

Trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm những người có tiêu chuẩn như sau làm Thừa phát lại: Là công dân Việt Nam, có sức khỏe, có phẩm chất đạo đức tốt; không có tiền án; có bằng cử nhân luật; đã công tác trong ngành pháp luật trên 05 năm hoặc đã từng là Thẩm phấn, Kiểm sát viên, Luật sư; Chấp hành viên, Công chứng viên, Điều tra viên từ Trung cấp trở lên; có chứng chỉ hoàn thành lớp tập huấn về nghề Thừa phát lại do Bộ Tư pháp tổ chức; không kiêm nhiệm hành nghề Công chứng, Luật sư và những công việc khác theo quy định của pháp luật. Người được bổ nhiệm làm Thừa phát lại được Bộ Tư pháp cấp thẻ Thừa phát lại.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp tự mình hoặc theo đề nghị của Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh quyết định miễn nhiệm Thừa phát lại theo nguyện vọng của cá nhân Thừa phát lại hoặc miễn nhiệm trong các trường hợp sau: không còn đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 10 của Nghị định 61/2009/NĐ-CP; hoặc bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; hoặc không hành nghề Thừa phát lại kể từ ngày được bổ nhiệm từ 6 tháng trở lên, trừ trường hợp có lý do chính đáng; hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính đến lần thứ hai trong hoạt động hành nghề Thừa phát lại mà còn tiếp tục vi phạm hoặc bị xử lý vi phạm bằng hình thức cảnh cáo trở lên đến lần thứ hai mà còn tiếp tục vi phạm; hoặc bị kết tội bằng bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Thứ hai, về công việc Thừa phát lại được làm, bao gồm:

1. Tống đạt văn bản của cơ quan thi hành án dân sự và tòa án.

Tống đạt là việc thông báo, giao nhận các văn bản của Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự do Thừa phát lại thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo Điều 21 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009, Thừa phát lại được quyền tống đạt các văn bản của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan thi hành án dân sự quận, huyện tại thành phố Hồ Chí Minh; Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các Tòa án nhân dân quận, huyện tại thành phố Hồ Chí Minh trong phạm vi cả nước. Khi thực hiện tống đạt văn bản, Thừa phát lại phải thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và về tố tụng.

Văn phòng Thừa phát lại phải ký thỏa thuận với cơ quan thi hành án dân sự hoặc tòa án dưới hình thức hợp đồng. Một Cơ quan thi hành án dân sự hoặc một Tòa án chỉ được ký hợp đồng với một văn phòng Thừa phát lại. Một văn phòng Thừa phát lại có quyền ký hợp đồng tống đạt với nhiều Cơ quan thi hành án dân sự hoặc nhiều Tòa án tại thành phố Hồ Chí Minh.

Theo quy định tại Thông tư liên tịch 13/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC, Thừa phát lại được tống đạt các văn bản sau: Giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời; quyết định đưa vụ án ra xét xử; bản án quyết định trong trường hợp Toà án xét xử vắng mặt đương sự của Tòa án nhân dân các cấp tại thành phố Hồ Chí Minh ngoại trừ Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh; quyết định thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập của Cục thi hành án và các chi cục thi hành án dân sự tại thành phố Hồ Chí Minh.

  1.  Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức

Thừa phát lại có quyền lập vi bằng ghi nhận các sự kiện, hành vi xảy ra trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh theo yêu cầu của đương sự, trừ các trường hợp vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng, đời tư, đạo đức xã hội và các trường hợp pháp luật cấm. Vi bằng là văn bản được dùng làm chứng cứ để tòa án xem xét, giải quyết vụ án và dùng làm căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Do vậy, bất kỳ một giao dịch, một hoạt động kinh doanh, một sự kiện mà cá nhân, tổ chức thấy cần phải lưu giữ để làm chứng cứ pháp lý nhằm giải quyết các tranh chấp có thể xảy ra trong tương lai thì họ có thể sử dụng đến dịch vụ lập vi bằng của thừa phát lại.

Vi bằng chỉ ghi nhận những sự kiện, hành vi mà Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến; việc ghi nhận phải khách quan, trung thực. Trong trường hợp cần thiết Thừa phát lại có quyền mời người làm chứng chứng kiến việc lập vi bằng. Vi bằng phải được đăng ký tại Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh.

Một vi bằng hợp pháp phải được lập thành văn bản bằng tiếng Việt, nếu vi bằng có từ 2 trang trở lên phải được đánh số thứ tự và được đánh dấu giáp lai tất cả các trang.  Nhằm tăng tính xác thực cho vi bằng, trong một số trường hợp như lập vi bằng về tình trạng nhà bị nứt, tình trạng ô nhiễm, hai bên kí hợp đồng, giao tiền… Thừa phát lại có thể đính kèm băng hình, đĩa, ghi âm hay các tài liệu chứng minh khác (Điều 27, Nghị định 61/2009/NĐ-CP và Điều 5 Thông tư 13/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC)

  1. Xác minh điều kiện thi hành án dân sự theo yêu cầu của đương sự

Xác minh điều kiện thi hành án dân sự là việc làm rõ người phải thi hành án có khả năng hay không có khả năng về kinh tế để thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án.

Thừa phát lại có quyền xác minh điều kiện thi hành án liên quan đến việc thi hành án mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành của các cơ quan thi hành án dân sự tại thành phố Hồ Chí Minh. Khi thực hiện, Thừa phát lại có quyền xác minh ngoài địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong trường hợp đương sự cư trú, có tài sản hay có điều kiện thi hành án ngoài địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Thừa phát lại có quyền tương tự thẩm quyền chấp hành viên cơ quan thi hành án yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, khi xác minh điều kiện thi hành án.

Việc xác minh điều kiện thi hành án dân sự được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án và Trưởng Văn phòng Thừa phát lại. Thỏa thuận phải lập thành văn bản và có các nội dung chủ yếu như: Nội dung cần xác minh, trong đó nêu cụ thể yêu cầu xác minh về điều kiện tài sản hay các điều kiện khác của đương sự; thời gian thực hiện việc xác minh; quyền, nghĩa vụ của các bên; chi phí xác minh…

  1. Trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự

Theo quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, Văn phòng Thừa phát lại có thẩm quyền thi hành án tương tự như Chi cục thi hành án. Tức là, Văn phòng được quyền trực tiếp tổ chức thi hành theo đơn yêu cầu của đương sự đối với các bản án, quyết định sau ( trừ các bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án): Bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực của Tòa án nơi Thừa phát lại đặt văn phòng; bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nơi Thừa phát lại đặt văn phòng; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nơi Thừa phát lại đặt văn phòng. Thừa phát lại có thể tổ chức thi hành các vụ việc nói trên ngoài địa bàn quận, huyện nơi đặt văn phòng Thừa phát lại nếu đương sự có tài sản, cư trú hay có các điều kiện khác ngoài địa bàn quận, huyện nơi đặt văn phòng Thừa phát lại.

Trưởng văn phòng Thừa phát lại ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ký hợp đồng thỏa thuận thi hành án với người yêu cầu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Quyết định thi hành án phải được gửi cho Chi cục Thi hành án dân sự nơi đặt Văn phòng; cung cấp thông tin và phối hợp với Cơ quan thi hành án dân sự có liên quan trong việc xử lý tài sản kê biên, thanh toán tiền thi hành án.

Thừa phát lại có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại khoản 3, Điều 66 của Luật Thi hành án dân sự. khi áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án, Thừa phát lại có quyền và nghĩa vụ như Chấp hành viên, thực hiện các thủ tục quy định tại Điều 66, Điều 67, Điều 68 và Điều 69 của Luật Thi hành án dân sự.

Sau khi hết thời hạn tự nguyện đã được ấn định trong quyết định thi hành án, Thừa phát lại có quyền ra quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quy định tại Điều 71 của Luật thi hành án dân sự, trừ trường hợp đề nghị Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định cưỡng chế thi hành án (đối với việc cưỡng chế cần huy động lực lượng bảo vệ). Thủ tục chung về cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án. Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, Thừa phát lại có quyền và nghĩa vụ như Chấp hành viên và thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Thứ ba, về chi phí thực hiện công việc của thừa phát lại: Thừa phát lại được thu chi phí khi thực hiện công việc theo quy định tại Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 12/2010/TTLT-BTP-TANDTC-BTC. Cụ thể như sau:

1.Chi phí lập vi bằng và xác minh điều kiện thi hành án:  do người yêu cầu và văn phòng Thừa phát lại thỏa thuận theo công việc thực hiện hoặc theo giờ làm việc. Văn phòng Thừa phát lại và người yêu cầu có thể thỏa thuận thêm về các khoản chi phí thực tế phát sinh gồm: chi phí đi lại; phí dịch vụ cho các cơ quan cung cấp thông tin nếu có; tiền bồi dưỡng người làm chứng, người tham gia hoặc chi phí khác nếu có.

  1. Chi phí tống đạt: Đối với việc tống đạt mà theo quy định của pháp luật đương sự phải chịu chi phí thì Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự thu và chuyển số tiền đó cho văn phòng Thừa phát lại. Đối với việc tống đạt mà theo quy định của pháp luật ngân sách nhà nước chịu thì Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự chuyển cho văn phòng Thừa phát lại.

Thông tư liên tịch số 12/2010/TTLT-BTP-TANDTC-BTC quy định: Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự thỏa thuận với Văn phòng Thừa phát lại về chi phí tống đạt theo mức, trong phạm vi quận, huyện nơi đặt trụ sở Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự không quá 50.000 đồng/việc (bao gồm cả thuế giá trị gia tăng); ngoài phạm vi quận, huyện nơi đặt trụ sở Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự, nhưng trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh không quá 100.000 đồng/việc (bao gồm cả thuế giá trị gia tăng). Trường hợp giao Thừa phát lại tống đạt ngoài địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thì Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự phải xác định thời gian cụ thể để ký hợp đồng với Văn phòng Thừa phát lại thực hiện việc tống đạt. Mức chi phí để thỏa thuận với Thừa phát lại tống đạt trong trường hợp này bao gồm: Tiền tàu xe đi, về bằng phương tiện giao thông công cộng (trừ phương tiện máy bay); tiền phòng nghỉ không quá 130.000 đồng/01 ngày; tiền lưu trú không quá 70.000 đồng/01 người/01ngày (bao gồm cả thuế giá trị gia tăng).

  1. Chi phí trực tiếp tổ chức thi hành án: Văn phòng Thừa phát lại được thu chi phí theo mức phí thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật về phí thi hành án dân sự.Những vụ việc phức tạp, văn phòng Thừa phát lại và bên yêu cầu thi hành án có thể thỏa thuận về mức chi phí thực hiện công việc.

Thừa phát lại là chế định còn khá mới ở nước ta. Tuy nhiên, chế định này đã đóng vai trò tích cực trong việc “ Phát huy khả năng và tính chủ động tích cực của người dân trong đời sống xã hội, phát huy trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân trong các quan hệ pháp luật dân sự, hành chính; xác định lại đúng mức độ, phạm vi can thiệp của Nhà nước trong lĩnh vực hành chính tư pháp, qua đó, giảm khối lượng công việc và gánh nặng chi phí của Nhà nước cho hoạt động thi hành án dân sự, làm tinh gọn bộ máy và tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước” [1] . Vì vậy, chúng tôi nghĩ rằng cần nghiên cứu hoàn thiện và nhân rộng mô hình thừa phát lại trên phạm vi cả nước.

[1] TS. Dương Thanh Mai, “Quan điểm khoa học, chính trị - pháp lý về thừa phát lại trong tiến trình cải cách tư pháp, cải cách hành chính ở Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng 11/2011.

Nguyễn Thị Hải Yến – Trường ĐT, BDNV kiểm sát

Theo http://tks.edu.vn