Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay

(Ngày đăng:01-08-2019 - Lượt xem: 38)
Hiện nay, chế định thừa phát lại đã cơ bản đạt được những kết quả bước đầu, góp phần tối ưu hơn quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức trong đời sống dân sự, thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển bền vững.

Hiện nay, chế định thừa phát lại đã cơ bản đạt được những kết quả bước đầu, góp phần tối ưu hơn quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức trong đời sống dân sự, thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển bền vững.

 

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động thừa phát lại hiện nay còn gặp khá nhiều khó khăn trong thực tiễn như: Nhận thức của một số cơ quan, cán bộ và xã hội về chế định thừa phát lại còn nhiều hạn chế; Đội ngũ thừa phát lại chưa được đào tạo bài bản... Thực tế này đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ sở lý luận, tổng kết, đánh giá thực tiễn, nhận diện những hạn chế, vướng mắc, xây dựng và kiện toàn hành lang pháp lý về thừa phát lại ở Việt Nam.

Tổng quan về chế định thừa phát lại

Chế định thừa phát lại (TPL) đã hình thành và phát triển khá lâu trên thế giới. Cái nôi cho sự phát triển, hành nghề TPL trên thế giới bắt nguồn từ Cộng hòa Pháp. Ở Việt Nam, chế định này đã tồn tại từ thời kỳ phong kiến nhưng chính thức được thừa nhận từ thời Pháp thuộc.

Tuy nhiên, từ khi có Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về “Cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng” do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký và vì nhiều lý do khác nhau mà sau năm 1950 (ở miền Bắc) và sau năm 1975 (ở miền Nam), Nhà nước ta không tiếp tục duy trì chế định này. Đến năm 2009, chế định TPL mới bắt đầu được khôi phục và thực hiện thí điểm theo định hướng xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự trên tinh thần Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự.

Nhận thức vai trò quan trọng của TPL và tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện chế định này được nhất quán, đồng bộ, ngày 18/10/2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 135/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP.

Theo Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP, TPL là người được Nhà nước bổ nhiệm, hoạt động độc lập, được tiến hành thực hiện 4 nội dung chủ yếu sau: (i) Tống đạt giấy tờ theo yêu cầu của Tòa án hoặc cơ quan thi hành án dân sự; (ii) Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; (iii) Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự; (iv) Tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự.

Thông qua hoạt động, TPL ngày càng khẳng định địa vị pháp lý cũng như vai trò trong hoạt động tư pháp và xã hội hóa thi hành án dân sự. Đồng thời,  góp phần bảo đảm tốt hơn, tối ưu hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, của tổ chức trong đời sống dân sự, trong quan hệ với cơ quan nhà nước và trong các hoạt động tố tụng; Góp phần giảm thiểu áp lực cho Tòa án, cho cơ quan thi hành án, qua đó, giảm bớt tình trạng án tồn đọng. TPL còn góp phần xây dựng và tạo ra môi trường hành lang pháp lý rõ ràng và đảm bảo cho các giao dịch dân sự, kinh tế được thực hiện theo đúng pháp luật, thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển bền vững.

Nghị quyết số 107/2015/QH14 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định TPL được thông qua tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII. Theo đó, Nghị quyết này cho phép chế định TPL được thực hiện chính thức trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01/01/2016.

Theo thống kê của Bộ Tư pháp, đến hết năm 2017 đã phê duyệt Đề án thành lập Văn phòng TPL giai đoạn 2017-2018 của 14 địa phương, nâng tổng số các tỉnh thực hiện triển khai chế định TPL lên 22 tỉnh, thành phố (TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Đồng Nai, Bắc Ninh, Bình Thuận, Đà Nẵng, Long An, Cần Thơ, Đồng Tháp, Bình Phước, Cà Mau, Kiên Giang, Khánh Hoà, Hải Dương, Gia Lai, Phú Yên, An Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, Đắk Lắk). Tổng số 13 địa phương đã thực hiện chế định TPL với tổng số nhân lực đang làm việc tại các văn phòng TPL là 643 người, trong đó, có 134 TPL, 295 thư ký nghiệp vụ và 214 nhân viên khác.  

Hoạt động xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án chiếm tỷ trọng nhỏ nhất, doanh thu của 02 loại công việc trên chỉ khoảng gần 8 tỷ đồng, chiếm 6% tổng doanh thu.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động TPL hiện nay gặp khá nhiều khó khăn như: Trong xã hội còn chưa nhận thức đúng và đầy đủ về mục đích, ý nghĩa, vai trò và chức năng của chế định TPL; Đội ngũ TPL chưa được đào tạo kỹ càng về chuyên môn, chưa có nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp.

Theo tapchitaichinh.vn